Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

Chuyện vui: “Mở hàng nhẹ vía” hay ”Nợ như Chúa Chổm”

      “Nợ như Chúa Chổm”. Đó là thành ngữ phổ biến để chỉ người lắm nợ. Nhưng tại sao Chúa Chổm lại lắm nợ như vây ? Truyền thuyết kể rằng: “Chổm” là hạng cùng dân ở miền Thanh Hóa, chẳng có gia tài điền sản hay nghề ngỗng gì, quanh năm chỉ có đánh dặm, mò cua, bắt ốc nuôi thân “Chổm” tên thật là gì, quê quán ở đâu, bà con họ hàng thân thích có những ai? Chẳng ai để ý đến. Một con người “Tứ cố vô thân” như vậy, hỏi rằng ai dám cho vay mà “Nợ như Chúa Chổm” được. Nguyên do: Có mấy lần sáng sớm, Chổm vào quán nhỏ ăn lót dạ, tự nhiên những hôm đó chủ quán bán rất đắt hàng. Vì vậy, một đồn mười, mười đồn tràm, các chủ quán ai gặp Chổm cũng cố nài Chổm vào ăn quà lấy may. Ai được Chổm hôm nào chiếu cố vào án thì hôm ấy đều bán được đắt hàng. Nhưng Chổm làm gì có nhiều tiền để trả, người ta vui lòng mời Chổm ăn, bao giờ có tiền trả cũng được, mà không có cũng thôi, do đó trong khắp vùng không ai mắc nợ nhiều bằng Chổm.

Mở hàng nhẹ vía

     Năm 1527 Mặc Đăng Dung cướp ngôi nhà vua Lê Cung Hoàng, dựng nên nhà Mạc. Đến năm 1532 Nguyễn Kim khởi nghĩa phò Lê chống Mạc, đi tìm hậu duệ tôn của vua Lê, tìm được Chổm, mặc dầu khố rách áo ôm, nhưng có khí tướng đế vương (người ta còn đồn đại rằng: Chổm đi đâu cúng có đám mây che trên đầu, trời đang nắng gắt cũng trở nên râm mát v.v…), Chổm được phò lên ngôi vua mở đầu thời Lê Trung hưng đóng đô ở Thanh Hóa (tức Tây Đồ) để chống với nhà Mạc ở Hà Nội (tức Đồng đô).

     Sau khi lên làm vua, không có điều kiện gầngũi quần chúng như trước, mà cũng không nhớ nợ ai bao nhiều mà trang trải nợ nần nữa. Chúa Chổm (thực ra là Vua Chổm) đành phải hạ lệnh đức thật nhiêu tiền, rồi chổm đi đến đâu rải tiền ra đến đấy, cho công chúng ai nhanh tay, mạnh bước thì nhặt lấy. Vì thế nên mới có thành ngữ: “Nợ như Chúa Chổm”.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: phong tục tập quán việt nam

Màu sắc với truyền thống văn hóa dân tộc

       Ở mỗi dân tộc việc vận dụng màu sắc có tập quán khác nhau. Thí dụ ở các nước phương Tây, màu đen là màu tang tóc, còn ở Việt Nam các nước phương Đông thì phổ biến màu tang lại là màu trắng.

       Màu sắc còn mang đặc trưng sắc thái của các tầng lớp xã hội khác nhau: Thí dụ màu vàng là của Vua, từ các quan đại thần cho đến thường dân, cấm không ai được mặc quần áo hoặc xây dựng nhà cửa màu vàng. Màu tím là sắc phục của các quan đại thần. Mầu điều, mầu đỏ dành riêng để tế thần và làm sắc phục cho các cụ thượng thọ. Màu nâu sòng là của cửa Thiên dành cho những kẻ quy y Phật tổ, cũng như màu đen là sắc phục của linh mục đạo Ky-Tô. Màu xanh là của những người còn theo dõi Cửa khổng sân Trình, của học trò chưa đậu đạt:

 truyền thống văn hóa dân tộc

       Trong bài thơ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp gửi Tiến sĩ Nguyễn Khản có câu:

Quân kim bảo hốt trung triều sĩ,

Cố ngã làm tuyên khăm thương thanh…

       (Có nghĩa là: Nay ngài đã là khanh tướng trong trường, mà còn nhớ đến bạn học ngày xưa áo vẫn xanh). “Áo vẫn xanh” tức là chưa hiển đạt, vẫn còn là bộ quần áo của người hàn sĩ. Mầu đào tức mầu hoa đào là của các nàng ca sĩ, cho nên mới có danh từ “Hát ả đào”.

        Màu đen, màu nâu là trang phục rẻ tiền nhất của quần chúng nông dân. Màu xanh nhập nội từ đất nước Trung Hoa sau giải phóng gọi là xanh công nhân.

         Ở Việt Nam, từ xưa đến nay, mầu đỏ, màu vàng, mầu hồng, dùng trong trường đời chỉ dành để chúc tụng, khao lão, mừng rỡ, màu đen, màu tím… Không hiểu vì sao, gần đây nhan nhản ở các cửa hàng, trướng điếu (lễ tang) cũng dùng màu đỏ, màu vàng rực rỡ, phải chăng các cụ già chết là đáng mừng, không cần phải an ủi, lưu luyến nên chẳng cần đùng màu đen, trắng, xanh, tím như ngày xưa. Vì thế mới xảy ra câu chuyện oái oăm: Có người đi mừng ông bạn 70 tuổi lại mua một bức trướng điếu màu đỏ thêu 4 chữ vàng “Tiên cảnh nhân du, có khác gìchúc cho bạn mình mau chết để chóng được lên dạo chơi trên cảnh Bồng lai. Nguyên “Tiên cảnh nhân du” (Nghĩa là thanh nhàn dạo chơi trên cảnh tiên) là để an ủi người mới mất từ nay hết nợ trần gian lên hưởng cảnh tiên.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: le xin dau

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2015

Miếng trầu là đầu câu chuyện

       Theo phong tục Việt Nam, miếng trầu tuy rẻ tiền nhưng chứa đựng nhiều tình cảm ý nghĩa, giàu nghèo ai cũng có thể có, vùng nào cũng có. Miếng trầu đi đôi với lời chào, người lịch sự không “ăn trầu cách mặt” nghĩa là đã tiếp thì tiếp cho khắp.

                            – Tiện đùy ôn một miếng trâu

                        Hỡi rằng què quán ở đâu chõng là

      “Đầu trò tiếp khách” là trầu, ngày xưa ai mà chẳng có, họa cự chăng riêng có Tú Xương mời “Đầu trò tiếp khách trầu không có. Bác đến chơi nhà, ta với ta”.

        Quý nhau mời trầu, ghét nhau theo phép lịch sự cúng mời nhau ăn trâu nhưng “Cau sáu bổ ra thành mười”.

        Đặc biệt “Miếng trầu là đầu câu chuyện” giao duyên giữa đôi trai gái:

                         “Lân la đi thốc miếng trầu,

                        Đường ăn ở dễ chiêu lòng bạn lứa”

Miếng trầu là đầu câu chuyện

- Trâu vàng nhá lần cau xanh Duyên anh sánh vôi tình anh tuyệt vời.

Mời trầu không ân thì trách móc nhau:

- Đi đầu cho đổ mồ hồi

Chiếu trải không ngòi, trầu để không ăn.

- Thưa rằng bác mẹ tôi răn Làm thản con gái chớ ăn trầu người.

       Khi đã quen hơi bén tiếng, trai gái cúng mượn miếng trâu để tỏ tình, nhất là các chàng trai nhờ miếng trầu mà tán tỉnh:

-     Từ ngày ăn phải miếng trầu Miệng ăn mối đỏ da sầu đăm chiếu.

-      Một thương, hơi nhớ, ba sầu Cơm ăn chẳng được, ăn trầu câm hơi.

      “Có trâu, có vỏ, không vôi “thì môi không thể nào đỏ được, chẳng khác gì “Có chăn, có chiếu, khổng người nằm chung”.

-    Cho anh một miếng trầu vàng Mai sau anh trả lại nàng đối mồm.

-    Yêu nhau chẳng lấy được nhau Con lợn bỏ đói, buông cau bỏ già.

      Miếng trầu không đắt đỏ gì “Ba đồng một mớ trầu cay”… nhưng “Miếng trâu nên dâu nhà người”.

     Ngày nay, để răng trắng, nhiêu người không biết ăn trầu nữa, nhất là ở thành phố nhưng theo tục lệ nhà ai có con gái gả chồng, sau khi ăn hỏi xong cứng đem cau trầu biếu hàng xóm và bà con nội ngoại. Vì miếng trầu là tục lệ, là tình cảm nên dẫu ăn được hay không cũng chẳng ai chối từ:

       Thời xưa, ăn trầu còn sợ bị bó “Bùa mê”, “Bùa yêu” nên người ta có thói quen:

  Ăn trầu thì mở trầu ra

 Một là thuốc độc hai là mặn vôi.

      Các cụ các già, càng nghiên trầu, nhưng không cồn răng nên “Đi đâu chỉ những cối cùng chày” (Nguyễn Khuyến). Cối chày giết trâu làm bằng đồng, chỉ bỏ vừa miếng cau, miếng trầu, miếng vỏ nhưng chạm trổ rất công phu, ngày nay không còn thấy có trên thị trường nên các cụ quá già phải nhờ con cháu nhá hộ.

        Vì trầu cau là “Đầu trò tiếp khách” lại là biểu tượng cho sự tồn kính, phổ biến dùng trong các lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, 11 cưới, 11 thọ, lễ mừng… Nêm têm trầu cũng đòi hỏi phải có mỹ thuật, nhất là lễ cưới có trâu têm cánh phượng có cau róc trổ hoa, “Cau già dao sắc” thì ngon. Bày trên đĩa, hạt cau phóng sóng hàng, chầu vào giữa, đĩa trầu bày 5 miếng hoặc 10 miếng, khi đưa mời khách phải bưng hai tay. Tế gia tiên thì trầu tiêm, có tế lễ thiên thần thì phải 3 lá trâu phết một tí vôi trên ngọn lá và 3 quả cau để nguyên.


Câu chuyện của Cụ Hàn Trần

       Chuyện này do một viên lính lệ (đấu tên) hầu hạ viên tri huyện Hương Sơn kể lại như sau” Cụ Hàn Trần tức Tống Trần Cơ người xã Sơn Hào, huyện Hương Sơn, nguyên xưa là thầy đồ dạy học chứ Nho lại là thầy lang mát tay nổi tiếng một vùng. Nguyễn Khắc Niêm, người cùng xã là 1 trong những học trò cũ của cụ Hàn Trần, tuy làm đến chức Thượng thư trong nhưng mỗi lần về quê, ông không quên đến hầu tâm sức khỏe thầy và gia đình thầy, rồi cung kính cho gia nhân đem cáng vọng đến rước thầy sang nhà mình chơi.

       Một hôm viên tri huyện T, cũng sang 1 chuyên đò ngangvới cụ Hàn Trần Nhân dân phải cúi rạp xuống chào quan huyện, riêng cụ Hàn vẫn nghiêm nhiên ngồi đợc sách, khống để ý đến quan huyện.                                                                                 

-     Họ, tên gì? – Viên tri huyện T, quen thói hống hách, tức   giận hỏi trống không. Cụ Hàn Trân cũng trả lời trống không:                                                

-     Trân.                                                                     

-     Này thì “Trần”, muốn “trần” cho “trần”! Hắn ra lệnh cho  lính lệ lột trần ông già và đẩy xuống sông Phố Đoạn này sông cạn, cụ Hàn chỉ ướt quần áo thổi. Moi người trên chuyến đò đều bất bình, căm ghét viên tri huyện và đều xuống sông dìu cụ lên bờ.

Câu chuyện của Cụ Hàn Trần

       Mấy hôm sau câu chuyện diễn ra tại nhà cụ Thượng Niêm nhân dịp cụ Thượng có tiệc mừng. Trong số khách mời đến dự, tất nhiên có viên tri huyện sở tại nói trên (viên lính lệ, người dẫn truyện này, cũng theo hầu). Quan bé đến nhà quan lớn, phải khúm lúm vái lạy cụ Thượng từ dưới sân, chứ đâu dám hống hách như đến nhà dấn thường.

       Thật bất ngờ! Mặc cho tri huyện đứng vái chào ở ngoài, cụThượng vẫn chưa thèm nhìn tới. Cụ còn bận tiếp đãi 1 ông già với bộ quần áo nâu đang ngồi chễm trệ trên giường cao. Cụ Thượng ngồi thấp hơn 1 bậc, châm lửa cho ông già ngồi rút ị điếu thuốc lào.

      Ông già đó là ai? Chính là cụ Hàn Trần bị đẩy xuống sông hôm nọ. Hồi lâu cụ Thượng mới ngoảnh lại bảo viên tri huyện:                                          

“Giới thiệu, vị này là thầy học của tồi, anh háy lạy thầy đianh đã quen biết thây ròi đấy!”.

       Chuyên gì xảy ra sau đó. Mỗi người kể 1 cách, có người nói: “Nghe đâu cụ Thượng đa lột phăng áo, mũ của Viên tri huyện rồi tống cổ vê”, có người nói: “Cụ Thượng chỉ nói mát 1 vài câu cũng đã đủ làm cho viên tri huyện toát mồ hôi, run cầm cập”, có người lại kể một thôi một hồi, y như anh ta chứng kiến vàghi tốc ký những lời vàng, tiếng ngọc của cụ Thượng dạy viên tri huyện vê đạo làm chamẹ dân, đạo làm người và trước hết là truyền thống “Tôn sư trọng đạo” của dân tộc ta…



Từ khóa tìm kiếm nhiều: lễ xin dâu

Cụ Thượng Niêm

          Nguyễn Khắc Niêm (1889 – 1945) người Sơn Hòa. Hương Sơn, Hà Tĩnh đậu Đệ nhị giáp Tiến sĩ (tức Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi 1907 làm Thượng thư bộ Cải lương hương chính triều Bảo Đại, Nguyễn Khắc Niêm là học trò cụ Nguyễn Duy Dư đã người Sơn Tiến, một người nổi tiếng hay chứ ở huyện Hương Sơn, đã được Hội Ta văn hàng huyện tôn xưng là “Hương sơn tứ hổ”.

          Nguyễn Khắc Niêm thụ giáo cụ Dư ở cách nhà mình trên 4 km. Đến k5r thi Hương, hai thầy trò cùng íêu chõng đi thi, học trò đậu cử nhân, được vào Huế thi Hội đậu luồn Hoàng giáp, thầy chỉ đậu tứ tài. Theo chế độ thi cử thời trước: Cứ nhân mới được dự thi Hội, cồn Tú tài thì phải 3 khóa tú tàimới dược dự thi. Ba năm mổi có một khoa, thầy Tú chưa kịp chờ để thi lại khoa sau thì đã tử trần -1909. Hơn 30 năm sau, bà Tú Dư mất, lúc đó Nguyễn Khắc Niêm đá lên đến chức Thượng thư trong triều. Nghe tin vợ thầy học trò cũ mất, ông đánh xe từ Huế vê Hà Tĩnh để phúng viếng.

Cụ Thượng Niêm

         Nhà cách sông và đường quốc lộ, Tri huyện tiếp điện đã lệnh cho Tổng lý địa phương đem kiệu và võng lọng ra tận bò sông đón rước cụ Thượng vê quê lễ vợ thầy. Nhà ông bà Tú trên đỉnh đồi Sơn trại, người trai tráng ỉeo lên cúng đã cám thấy mệt, hơn nữa sỏi đá lởm chởm. Nhưng để tỏ lòng cung kính nhớ ơn thầy, khi đến cổng xóm vào nhà thầy, cụ Thượng Niêm đã xuống cáng, đi chân đất có hai người lính hầu đìu hai bên, lên tận nhà thầy gần đỉnh. Tất nhiên cụ Thượng thư đã đi chân đất thì từ tuần phủ, tri huyện đến tổng lý cúng phải tháo hia hài cắp nắp mà leo lên. Người con trưởng cụ Tú và một số gia nhân khăn áo chỉnh tề đã xếp hàng đứng ở cổng. Mặc dfâu chỉ là dân thường ít hơn một vài tuổi, nhưng con trai cụ Tứ cũng được cụ Thượng Niên vái chào rất cung kính (vì được coi là thế huynh).

          Học trò cũ mà thầy lại mất từ lâu, nay vê lễ tang vợ thầy, đây là chuyên thực mắt thấy tai nghe, kể lại dẫu có lỗi thời, nhưng cũng hv vọng các bạn đọc chắt lọc được trong phong tục xưa chút hương vị ngọt ngào chăng?



Từ khóa tìm kiếm nhiều: lễ lại mặt

Quan hệ thầy trò

       Quan hệ thầy trò nói riêng về mặt phong tục cũng cần có một tập sách riêng. Để trả lời cho những câu hỏi vê đạo thầy trò, chúng tôi thiết nghĩ mấy dòng sơ lược thì chưa thể nào nói hết được.

      Dân tộc ta vốn tôn sư trọng đạo, dưới chính thể nào cũng vậy. Vai trò thầy giáo luôn luôn tiêu tiểu cho tầng lổp trí thức, tiên tiến được toàn thể xã hội công nhận. Nghề giáo vốn là nghề cao qúy nhất. Nên giáo dục thời phong kiến cứng như thời dân chủ đêu thống nhất một phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn”, nhà trường gắn liên với gia đinh và xá hội”.. Nhân tài phục vụ xã hội, điêu hành bộ máy Nhà nước đêu được ông thầy, tức là khuôn mẫu, đào tạo nên, “Không thầy đố mày làm nên”. Tiêu chuẩn đánh giá kiến hức đều thống nhất dựa vào chế độ thi củ, có học vị, cấp bậc rõ ràng.

       Vì tất cả những lẽ trên, có người đặt vấn đề: Vậy đặt thầy cao hơn cha có quá đáng không?

Quan hệ thầy trò

      Cha mẹ sinh ra, nuôi dưỡng mình, thầy giáo là người truyền thụ kiến thức cho mình. Sở dĩ hiển đạt, thi thố được tài năng vôi đời đêu nhờ thầy. Ngày xưa, từ nhỏ đến khi đi thi đậu cử nhân, tiến sĩ thường cũng chĩ học một thầy cùng lắm là vài ba thầy, chứ lđiông như ngàv nay mỗi năm mỗi lctp rồi mỗi môn lại một thầy. Ngày xưa có nhiều trường hợp thầy trò cùng lêu chõng đi thi nhưng học tài thi phận, trò đậu thầy hỏng. Có những ông thầy đào tạo được nhiêu ông Nghà, ông Cống nhưng bản thân thầy lại chẳng đậu đạt gì, chẳng nhận quan tước gì, có người thí đậu cũng không ra làm quain mà chỉ tiếp tục dạy học. Có những thây giáo đạo cao đức trọng được môn sinh nể trọng hơn cha. Thầy Chu Văn An là người thầy tiêu biểu nhất được liệt thờ ở văn Miếu.

       Ngày xưa, thầy đồ được một số học sinh đậu đạt cử nhân, tiến sĩ thì tự nhiên vai vế xã hội được nâng lên rõ rệt, quan tỉnh quan huyện, cũng phải kính nể, chẳng những đối với thầy mà cả gia đình thầy. Qưang Trung ba Tân vời Nguyễn Thiếp (La Sơn Phu Tử) ra làm quân sư chính là để thu phục nhân sĩ Bắc Hà, vì Nguyễn Thiệ p là thầy giao của nhiêu tríêu thần Lê Trịnh đương thời.

      Ngành giáo dục tuy có chế độ thi hương;, thi hội, thi đình rất nghiêm, rất chặt, song rất ít giao chức, rất ít trường công à cấp huyện, cấp phủ, chỉ có một vài huấn đạo giáo thu ăn lương. Nhà nưđc, hầu Kêtsla các lđp tư thạc. Một nhà khá giartrong vùng nuôi thằy cho con ăn học, xóm làng chung quanh gửi con đến thụ giáo không phải nộp học phí, chỉ đến ngày lễ mồng 5 tháng 5, ngày Tết… Cha mọ học trò mới đưa lễ Tết đến tết thầy tùy tâm. Giàu có thì thúng gạo nếp, bộ quần áo… Nghèo thì một cơi trầu, một bữa rượu cũng xong.




Từ khóa tìm kiếm nhiều: phong tuc viet nam

Ai vái lạy ai?

       Vái lạy là phép xã giao thời xưa, không chỉ dùng khi cúng tế mà người sống cúng lạy nhau… “Đời xưa vua đốivới bầy tôi, bố vợ đối với chàng rể, người tôn trưởng với kẻ ti ấu đều phải lạy đáp lễ . Đến đời nhà Tấn mới đặt ra lễ “Tôn quân ti thần”, nên thiên tử không đáp lại bày tôi nữa… Ngày xưa từ quan khanh sĩ trở xuống đều theo cố lễ mà đáp lễ kẻ ti ấu chối từ, mới dùng lễ túc bái đáp lại. Còn vái là nghi thức lúc đã lễ xong… Nước ta xưa kia ở chốn công đường có lễ tương kiến, kẻ hạ quan cũng vái bậc trượng quan… Gần đây những kẻ hiếu sự không biết xét đến cổ điển lại cho vái là lễ của tôn trưởng đối với kẻ ti ấu, còn kẻ ti ấu đối với tôn trưởng không được vái, chi lạy xong là cứ đứng thẳng và lùi ra.. “

      Xem đoạn văn trích dấn trên, ta thấy vái lạy là một phép xã giao, không chi người dưới vái lạy người trên mà người trên cũng vái lạy đáp lễ, Từ lạy nhau chuyển sang vái nhau trong buổi tương kiến. Đễn nay tiếp thu văn hóa Âu Tây, bắt tay khi gặp nhau hoặc tiễn biệt nhau, lịch sự hơn mà vẫn được phép tôn ti (tồn trưởng ti ấu).

Ai vái lạy ai

        Theo phong tục lễ của ta, bề dưới phải chủ động chào bê trên trước, trẻ chào già trước, trò chào thầy trước. Nếu bê trên không chào lại người dưới, thầy không chào lại trò, tức là không đáp lễ, thì cũng bất lịch sự chẳng khác gì từ chối bắt tay người khác, làm cho người đưa tay trước rất ngượng ngùng và bất bình. Không biết vái, chào lại người khác đã tự làm mất đi phong cách lịch duyệt của chính mình.

        Chúng tôi xin trích kể lại câu chuyên ‘Tam nguyên Tổng đốc lạy ông Nhiêu”.

       Ông Nhiêu Chuồi người cùng làng ăn mừng lên thọ 80. Cụ Tam nguyên cũng tới mừng. Khi làm lễ chức thọ, cụ Tam cũng như mọi người lễ ông Nhiêu hai lễ rất kính cẩn “Ai đời cụ Tam Nguyên Tổng đốc lại lạy một người thường dân. Ồng Nhiêu vội vàng sụp xuống lạy tạ. Cụ Tam đỡ ông Nhiêu dậy, ôn tồn nói: Ta lễ là lễ cái thiến tước của ông Nhiêu đấy…”



Từ khóa tìm kiếm nhiều: phong tục việt nam

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015

Nhập gia tùy húy có nghĩa là gì?

        Theo phép xã giao, trước khi đến thăm một gia đình cần tìm hiểu tên húy của ông bà cha mẹ và bản thân tên người mình định đến thăm, để tránh trong khi nói chuyện hoặc xướng họa thơ tự động đến tồn húy gia tiên người ta. “Húy” đông nghĩa với “Ky” (tức là kiêng ky). Ngày giỗ tức là húy nhật hay ky nhật. Tên húy là tên chính nhưng lại là tên kiêng nói đến, khi giận nhau người ta đem tên húy ra mà chửi. Ông bà, cha mẹ, chú bác có thể gọi ccn cháu bằng thằng nọ con kia theo tên húy, còn kẻ dưới không được gọi bề trên bằng tên húy, kể cả những người cao tuổi trong làng, trong xóm. Trong ngôn ngữ thông thường có trùng âm cũng phải nói chệch đi, nếu không sẽ bị coi là hỗn.

         Thời nay, giao thiệp rộng rãi, trong quan hệ bạn bè, đồng chí, gọi tên nhau là chuyện bình thường. Song, về các vùng nông thôn phải tùy theo phong tục từng vùng mà xưng hô, nếu cứ theo họ tên ghi trong địa chỉ thứ tín và giấy tờ hành chính mà gọi thì chưa hẳn các vị cao tuổi đã vui lòng. Trừ những người đã đi thoát ly, công tác, còn thông thường người ta vẫn hay gọi nhau bằng tên con trưởng hoặc tên cháu đích tôn.

Nhập gia tùy húy

        Ở miền Nam nước ta hay gọi tên theo thứ tự sinh ra trong gia đình nhưng con trưởng không gọi là anh Cả mà gọi là anh Hai, nếu đã ra ngoài xã hội thì thường gắn tên đó với húy. Ví dụ: Ông Bảy lùn, chị Ba Tịch…

         Mẩu chuyện vui: Sêcuturê với Hồ Chí Minh:

         Sêcututê Tổng thống Ghi-Nê sang thăm Việt Nam theo lời mời với tư cách là khách của Hồ Chủ Tịch. Trong buổi mít tinh tiễn đưa tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội, Sêcuturê hết lời ca ngợi khâm phục Hồ Chủ Tịch.

         Ông phát biểu đại ý: Vợ tôi sắp sinh, nếu sinh con trai tôi sẽ đặt tên con là Hồ Chí Minh.

        Tôi được dự buổi lễ đó, thầm nghĩ: “Ông này quả thật là chân thành và rất cảm phục Hồ Chủ Tịch nhưng ông ta chưa hiểu câu “Nhập gia tùy húy” của nước ta câu nói đó có khác gì chửi người ta!”.

         Liền đó, Hồ Chủ Tịch đáp lại rất khôn khéo, tài tình “Bác không có con, vậy Bác đề nghị các cháu thanh niên nếu sắp đi, cháu nào đẻ con trai thì đặt tên con là Sêcuturê í”.

        Mọi người dự lễ đều vui cười thoải mái, phục tài đối đáp của Bác, vừa được lòng khách nước ngoài, vừa phù hợp với phong tục nước ta trong hoàn cảnh đó.


Phải chăng lời chào cao hơn mâm cỗ?

        Trong tiếng Việt từ “Chào” thường đi đôi vôi từ “Hỏi” và từ “Mời”. Cách chào hỏi, chào mời, chào thưa mở mỗi địa phương có một phong tục khác, lại còn lệ thuộc vào đối tượng được chào và phong cách người chào.

       Đối với các cụ già, khúm núm kính cẩn, đứng lại “Bẩm cụ ạ” thì cụ có cảm tình ngay nhưng đối với người lớp trung niên tân tiến mà làm như vậy thì người ta dễ tưởng là chế giễu.

        Đi qua nghiêng nón không chào” không phải vì ghét nhau hờ hứng với nhau mà vi quá yêu nhau cứng nên,người ta không chỉ chào bâng lời nói mà còn bằng khóe mát nụ cười, có trường hợp mắt nói rõ hơn miệng.

        Chào hỏi đi đôi với nhau, hỏi để chào: “ông khỏe không?” “Ông đi đâu đấy?”. Nhiều khi hỏi bâng quơ, hỏi không cần trả lại, nhưng nếu không chào hỏi thì ra điêu lạnh nhạt khinh người.

lời chào cao hơn mâm cỗ

       Chào mời đi đôi với nhau: cần phân biệt mới thực sự hay mời để thay lời chào. Nực cười! Hành khách trên hai chiếc thuyền đi dọc sông, ngược chiều nhau cúng mời nhau ăn cơm. Lời nói đó thuần túy thay lời chào chứ ai có nhảy sang thuyên kia mà ấn đâu?

        Lời chào có thực sự cao hơn mâm cỗ không? Có khi không có mâm cỗ, thì chào suông, e không ổn: nhưng quả thực, mâm cao cỗ đầy mà lời chào nhạt nhẽo, khỉnh khí, kiêu kỳ thì mâm cỗ cũng bỏ đi.

       Lời chào biểu hiện phong cách con người, biểu hiện nền nếp của gia đình, thuần phong mỹ tục của địa phương và cả dân tộc ta. Song, ở mỗi nơi một khác, mỗi thời một khác. Ngày xưa chào bàng cách vái, lạy, ngày nay chào bằng cách bắt tay. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong câu hỏi: Ai vái lạy ai”.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: phong tuc cuoi hoi

Cách xưng hô trong họ tộc

        Có xem sơ đồ gia phả toàn họ mới biết được. Mình thuộc đòi thứ mấy, đời trên mình là những ai, mình thuộc chi nào, nhánh nào, bằng vai với mình trong họ là những ai ? Có sơ đồ mới phân biệt được thế thử trong họ, mọi người tự xác định được quan hệ trong nội tộc mà xưng hô cho đúng, chú ra chứ, bác ra bác, anh ra anh, em ra em v.v…

       Xưng hô trong nội tộc khác với xưng hô ngoài xã hội, để khỏi mang tiếng “Cá mè một lứa”. Ngoài xã hội dựa theo tuổi tác và chức vụ địa vị, trong gia tộc dựa theo thế thư, nhưng khỉ giao thiệp với từng cá nhân cụ thể lại phải kết hợp theo cách xưng hô ngoài xã hội theo quan hệ tuổi tác. Có thể đứng theo huyết thống thì anh A phải gọi tôi bằng ông chú, nhưng tôi cũng gọi anh A bằng bác, vì anh A đã là người tuổi cao, gọi bằng cháu bất tiện và bất lịch sự. Tôi gọi anh A bằng bác đó là gọi thay cháu chắt tôi, mặc cậu tôi chưa có cháu. Tất nhiên anh A phải gọi tòi bằng ống, mặc đầu tối ít tuổi hơn anh nhưng vê thế thứ ngang với ông nội anh A. Tuy nhiên nếu ít tuối quá mà gọi bằng ông cũng bất tiện, có khi phải hạ xuống một bậc mà gọi bằng chú mới thân mật.

      Trong khi chúng tôi biên soạn gia phả có người bà con trong họ thắc mắc, Gia phả có nhầm lẫn gì giữa các chi trong họ bay không? Tại sao anh X, còn ít tuổi hơn cháu nội tôi, mà tôi phái gọi anh X bằng ông.

Cách xưng hô trong họ tộc

       Xin trả lời: đó là hiện tượng phổ biến, không có gì đặc biệt. Ngay trong một gia đình anh cả đã có con, mà chú út chưa ra đời; hiện tượng “Em bú chị dâu, cháu bú bà” là chuyên bình thường trong xã hội cũ, chỉ mới qua hai đời đó có sự chênh lệch 1 đời, vậy thì trong họ hàng qua nhiêu đời, chệch lệch dăm ba đời không có gì là lạ.

      Ở nông thôn còn mối quan hệ giây mơ rễ má chằng chịt nhau giữa thông gia, giữa bà con nội ngoại, nên cách xưng hô lại càng phức tạp, thông thường thì vợ chồng thông nhất cách xưng hô với ông chú bà bác bên nội bên ngoại như nhau, nhưng cũng có trường hợp do quan hệ huyết thống thân sơ khác nhau chồng gọi bằng em, vợ gọi bằng bác hay ngược lại. Nhưng dẫu sao “Máu thoảng còn hơn nước lã”, gọi nhau theo quan hệ gia tộc vẫn thân mật hơn gọi theo quan hệ xã hội.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: phong tục cưới hỏi

Vợ chồng xưng hô với nhau như thế nào?

      Người Việt ta từ nhỏ đến lớn, đến già nói chuyện với nhau đã quen tai nhưng nếu diễn giải cho người nước ngoài biểu đạt được đầy đủ sắc thái ngôn ngữ kể cũng thật lý thú, ví dụ “Nhà tôi” dịch ra tiếng Pháp “Ma maison” thì người Pháp làm sao hiểu nổi!

     Thời nay, vợ chồng trẻ xưng hô với nhau “Anh anh em em” âu yếm, thân thiết biết bao! dễiu chồng ít hơn dăm ba tuổi vẫn là anh. Lùi lại bốn mươi năm về trước, những gia đình ít nhiều được Âu hóa, vợ chồng gọi nhau bằng “Mình” cũng thể hiện được tình cảm đậm đà, gọi nhau bằng “Cậu, mợ” cũng thanh nhã. nhưng những từ đó con xa lạ vơi nông thôn, một số tân tiến muốn gọi nhưng vẫn còn ngượng ngừng với hàng xóm, chỉ thầm kín tỏ tình với nhau trong buồng, thổ thể chỉ đủ hai người nghe với nhau.

Vợ chồng xưng hô với nhau như thế nào

     Cách gọi nhau bằng tên trông không cũng là một bước cải tiến lớn, chứ như các cụ ngày xưa, thời còn trẻ chỉ gọi nhau bằng “Bố thằng cu”, “U nó, “Mẹ hĩm”… Người mđi lấy nhau chưa có con, chồng chẳng có chức vị gì mà gọi, thì sao? Bí quá, có cô mới về làm dâu, muốn gọi chồng đang chơi bên hàng xóm vê chẳng biết xưng hô ra sao bèn ra ngỗ gọi thật to “Ai ơi! Vê mà ăn cơm”. Từ “Ai” ở đây không phải là đại từ nghi vấn, hay đại từ phiếm chỉ mà có nghĩa là “Chồng tôi ơi!.

     Còn khỉ nói chuyện với người khách thì giới thiệu vợ mình hay chồng mình là “Nhà tôi”. Từ “Nhà tôi” thật là đậm đà gán bó, “Mình” và “Tôi” tuy hai nhưng một. “Nhà tôi” tức là “Chồng tôi” hay “Vợ tôi” chứ không thể nói “Vợ anh”, “Chồng nó” là “Nhà anh, “Nhà nó”.

     Vợ chồng nói chuyện với nhau thường hay nói trống không “Này! Ra tôi bảo!”, hoặc “Nào ai bảo mình”,..



Xưng hô thế nào cho đúng?

     Vấn đề này thuộc lĩnh vực ngốn ngữ học, giáo dục học, nhưng dính dáng nhiêu đến phong tục cổ truyền. Mới nghe tưởng quá đơn giản, đứa bé lên ba cũng biết. Quả vậy! Trẻ con vừa học nói đã được cha mẹ, anh chị bày cho c ách xưng hô, thế nhưng đến già vẫn còn sai sót. Nhiêu khi chỉ vì một sai sót nhỏ trong cách xưng hố mà gây nên thành kiến nặng nê.

    Đối với các nước khác Âu cũng như Á, đại từ nhân xưng có 3 ngồi: Người nói, người nghe và người, vật, sự việc được đê cập đến trong câu nói. Chí có sáu từ cơ bản nấu dịch mộc mạc ra tiếng Việt là: Tao, mày, nó, chúng ta, chứng mày, chúng nổ.

Ví dụ: “BỐ mẹ cháu bảo cháu đưa bà cháu sang thăm hai cụ”, câu này nếu dịch từ đểi từ ra tiêng nước ngoài thì như sau: “Chúng nó bảo tao đưa nó sang thăm chúng mày”.

Xưng hô thế nào cho đúng

    Ở Việt Nam ta đã quen từ nhờ, đáng tuổi ông thì gọi là ông, đáng tuổi bác thì gọi là tác, không được “Mày tao chí tớ”. “Cá mè một lứa”. Chúng ta nên thông cảm với mgười nước ngoài học tiếng Việt, Đại từ nhân xưng tiếng Việt rất đa dạng phong phu nhưng cũng rất phúc tạp, điêu khó khăn phức tạp nhất là, ngay trong đại từ nhâ n xưng của ta đã mang sắc: thái tình cảm, thể hiện sự yêu đương tức giận, kính trọng, khinh ghét, khách sáo, thân mật. 

    Trong cách xưng hô của ta có phân biệt tôn ti trật tự rõ ràng. Cháu bé nói rằng: Tại sao ông bảo cháu phải thưa bẩm, thế mằ cháu gọi ông, ông lại không thưa bẩm cháu. Cháu cũng không hiểu sao cha mẹ gọi con thì gọi thằng Giáp con Ất được, cồn con gọi tên thật cha mẹ thì lại không được. Tại sao ông chú già lại còn gọi là “ông trê”.

    Cách dùng từ để xưng hô của ta còn tùy thuộc vào mức độ thân sơ giữa người nói và người nghe. Ví dụ, thật thân tình bạn bè gọi nhau tòng mày, tao, hẳn thì quý; gọi nhau bằng thưa quý anh hẩy bẩm ỗng thì coi như nhiễu cợt kích bác nhau. Ngược lại, mới quen biết sơ sơ mà mày tao thì coi như bất lịch sự, đôi khi người nghe bực mình bỏ đi không thèm trả lời. “Cụ già” và “Lão già” đông nghĩa, nhưng khi nói “Tồi hỏi cụ già” thì rất khác “Ta hỏi lão già”. Cũng có trường hợp. “Lão” chưa hẳn đã già mà là cách gọi thân mật;.

    Nếu có quạn hệ họ nội, họ ngoại thì gọi theo quan hệ thân thuộc, gắn bó tình thân thiết hơn; mặc đầu ít tuổi hơn mình nhưng ngang hàng cha mẹ thì gọi bằng chú, bác, cô, đi theo đúng vai vế trong họ. Ngược lại, đối với người đã lớn tuổi mặc dầu là bậc cháu nhưng để cho khỏi “Chướng” nên gọi bằng anh… Coi như gọi thay cho con cháu mình, như vậy thanh nhá hơn, lịch sự hơn.

    Thuần túy quan hệ xã hội, không có quan hệ họ hàng nhưng theo phép xá giao “Trưởng nhất tuế vi huynh, trưởng thập tuế vi phu” (hơn một tuổi làm anh, hơn mười tuổi làm cha), tức là tôn lèn ngang bằng vai với cha mẹ gọi là chú hay bác. Đây là phép tôn xưng.



Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

Người đàn bà tái giá

Đàn ông lấy vợ gọi là thủ, đàn bà lấy chồng gọi là giá. Có nhiều trường hợp đàn bà phải tái giá: Một là duyên không ưa, phận không đẹp phải ly hôn, hai là nửa đường đứt gánh, góa bụa khi còn xoan…

Ở đâychúng tôi không nói đến sự khác nhau giữa luật hôn nhân thời xưa và thời nay, và những quy luật bất công đối với phụ nữ trong hôn nhân thời phong kiến mà chỉ nói vê phong tục, trong đó một số phong tục còn duy trì đến nay:

-           Cha mẹ chỉ gả bán một lần, phần sau không tham gia cưới hỏi.

-           Đàn bà góa, tục gọi là “Nạ dòng” ít có trường hợp lấy được trai tân, phần lớn làm vợ lẽ, nói chung là chắp nối tơ duyên “Rổ rá cạp lại”, nên lễ cưới hỏi chỉ bó hẹp trong phạm vì thân nhân gia đình và vài bà con xóm giềng.

-           Ly hôn có hai trường hợp:

Người đàn bà tái giá

         Nếu chưa có con với nhau thì “Trai chê trai bỏ gái chê gái đền”. Nhiều khi nhà trai bắt đền tiền lễ seo, lễ tết, lề hỏi, lễ cưới nhiêu gấp đôi gấp ba phần số tần nhà trai đã bỏ ra cưới, bên nhà gái cũng phải chịu do đó nhà phải bố trí cho con gái trốn biệt tích. Dư luận xã hội cũng thiên vị, đánh giá con gái bị chồng rẫy là “Nứa trôi sông chẳng dập thì gẫy” Con gái đã “Lộn” chồng, cha mẹ chứa chấp trong nhà cũng bị dư luận xã hội lên án.

         Nếu đã có con mà bỏ nhau thì nhà gái không phải đền tiền nữa nhưng không có quyền được bắt con đi theo mẹ cũng không được mang của cải gì về nhà mình, mọi thứ của cải đã làm ra đều là của chồng, trừ quần áo đồ trang sức cũ của cha mẹ sắm cho. “Ruộng hoa nữ” tức là của hồi môn nhai của cha mẹ cho con gái, tuy có giao khế ước cho nhà trai, nhưng không quy định quyền của người bên nhà chồng thu tô. Nếu vợ chồng trực tiếp sản xuất thì chỉ thu hoạch xong vụ đó mà thôi. Nếu đã ly hôn tức là đoạn tình, không còn tang chế chỉ còn mẹ và con để tang cho nhau, đều một năm. Trường hợp tái giá vì góa bụa: Người đàn bà ở lại thờ cha hồn mẹ chồng và ồng bà chồng đến khi mãn tang mới lấy chồng khác.

         Nếu cha mẹ chồng mất trước, vợ chồng chưa ở riêng thì ở chơi cùng anh, chị dâu cả. Trong hoàn cảnh không còn nơi nương tựa mới xin về với cha mẹ đẻ hoặc anh chị em ruột.

Trước khi tái giá phải lo liệu cho chồng cũ được mồ yên mả đẹp, khấn cầu được phù hộ. Nếu cha mẹ chồng còn thượng tại cũng đưa trầu rượu đến lễ tạ để xin phép đi bước nữa. Còn con nhỏ dại thì có thể xin phép ông bà nội; nếu ông bà nội đã mất thì “Quyền huynh thế phụ”, xin phép bác cả được đưa con đi theo. Con đã lớn thì tùy hoàn cảnh, ở lại với ông bà nội hoặc vê với ông bà ngoại hay đi cùng với mẹ. Nhưng ở đâu đứa con cũng thuộc quyền bên nội.

         Theo “Thọ mai gia lễ”: Người mẹ bị bố gọi là xuất mẫu, người mẹ góa lấy chồng khác gọi là giả mẫu. Đối với giá mẫu hoặc xuất mẫu, con chỉ để tang một năm. Nếu vẫn nuôi con thì những đứa con được tiếp tục nuôi vẫn để tang mẹ ba năm, bố dượng nuôi thì để tang bốdượng một năm, không nuôi thì không phải để tang.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: phong tục cưới hỏi việt nam

Người đàn bà đi bước nữa

      Vợ chồng đã ly hôn một thời gian, sau cùng nhau thỏa thuận nối lại, hoặc chưa chính thức ly hôn nhưng người đàn bà bỏ chông ra đi nay muốn trở về, không gọi là tái giá, nhưng; trước khi trở vê phải làm lễ tại gia trên nhà chồng và cha mẹ chồng. Điều này không quy định đối với chàng rể và cha mẹ vợ.

         Xét theo phong tục cổ truyền và luật lệ phong kiến đối với các vụ ly hôn có nhiêu điểm bất công đối với phụ nữ, luật hôn nhân mới đã bãi bỏ những điểm bất công đó, thể hiện trong các khoản về quyền lợi trách nhiệm nuôi con và chia tài sản công bằng hợp lý hơn. Trường hợp tái giá sau khi góa chồng xét theo thủ tục xưa có nhiều điểm thể hiện được tínhthủy chung, đạo nghĩa làm vợ làm dâu, song thời bạn đời chờ ba năm tang mới được tái giá thì quá câu nệ khắt khe, ảnh hưởng không hay tới thân phận người đàn bà cần phải sớm bước đi bước nữa, sớm ổn định cuộc sống gia đình tương lai,có khi còn ảnh hưởng tới thân phận con cái của người chồng cũ đang thơ dại cần người san bớt gánh nặng, làm dịu bớt nỗi lo buồn của mẹ góa con côi.

Người đàn bà đi bước nữa

         Ngay từ ngày xưa tục lệ này ở nhiều vùng cũng đã được nới rộng không nhất thiết chờ mãn tang mới tái giá, Nhưng không nên quá vội vã thiên hạ sẽ chê cười là chồng chết chưa xanh cỏ “Quạt nìố, đập săng” chế liễu người đàn bà không chung tình vẹn nghĩa vợ chồng.

         Chuyện kể rằng: Có hai người đàn bà, một người sau khi chồng chết ngày nào cũng đến bên mộ chồng vừa quạt mộ vừa khóc lóc thảm thiết. Thiên hạ đi qua ai cũng bùi ngùi cảm động khen ngợi chonày thương chồng vô hạn. Song dò hỏi kỹ mới bì biết chị ra ngôi quạt mộ, mong cỏ đắp mộ chồng chóng xanh vì  trở lại, để chị chóng được đi lấy chồng khác, kẻo mang tiếng với đồi là chồng chết chưa xanh cỏ đã vội lấy chồng khác. Lại một người đàn bà khác thề thốt nặng lời khi chồng còn sống nhưng khi chồng chết chưa kịp chôn cất đã bắt tình với bạn của chồng. Không ngờ khi đập sàng ra mới biết là chồng giả chết để thử lòng chị ta.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: việt nam phong tục

Dạy con từ thuở bào thai

Tục ngữ Việt Nam có câu:

Dạy con từ thuở còn thơ

Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về

Ở đây chúng tôi muốn nêu: Không những dạy con từ thuở còn thơ mà còn phải dạy con ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Bởi vì cuộc sống vật chất lẫn tinh thần của người phụ nữ đang mang thai ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tinh thần của đứa trẻ sau này.

Người xưa thường nói: “Đàn bà hiền dịu, thì dễ cứ con. Thai sản là lẽ tự tự nhiên của trời, đất. Người không bệnh thì không ta cần phải uống thuốc”.

Theo y học cổ truyền:”… Tâm khí kinh sợ thì con bị điên, ta thận khí không đủ thì con thóp, thì khí không hòa thì con gầy cồm, tâm khí hư kèm theo con nhút nhát. Con là theo khí mẹ, mẹ không cẩn thận sao được! Mẹ chớ uống nhiều thứ thuốc, chớ châm cứu xằng xiên, chỗ đi đại, tiểu tiện vào chỗ không thường đi, chớ trèo cao xuống pha hiểm trở, chớ gánh  vvác nặng nhọc, có giao cấu phóng túng, chớ nằm ngả nhiều, chớ mặc áo quần quá ấm, chớ ăn quá no.

Tinh thần phải trấn tĩnh, không phạm đến thất tình (mừng quá, giận quá, đauthương quá, ham muốn quá v.v…). Muốn con sau này sinh ra thẳng thắn nghiêm trang thì người mẹ nên miệng nói lời ngay thẳng, làm việc ngay thẳng. Đàn bà rắp tâm làm việc ác thì không sinh đẻ được, người ta cứ tưởng là tại trời ghét bỏ, biết đâu rằng. Đó chính là do tự mình gây ra. vì khí ở gan ruột bị uất kết, ba bộ mạch: tâm, tì, thận đều bị uất nên khó sinh…”

Dạy con từ thuở bào thai

(Theo “Phụ đạo sàn nhiên” của Hải Thượng lãn Ông”)

Vì lẽ đó dân gian có câu: “Cây khô không có lộc, người độc không có con”. Dân phải giáo dục con, từ trong bụng mẹ mà thuật ngữ khoa học gọi là “Thai giáo”. Ngày xưa các bậc tiền bối đã răn dạy người mẹ tương lai (sản phụ) không được giận dữ, hoảng hốt, không được nghĩ điêu xấu, làm việc xấu, nghe chuyện dò, nhìn cảnh tang thương, cần nói năng, đi đứng khoan thai…

Có mối liên hệ khăng khít giữa thai nhi với sức khỏe và tâm trạng người mẹ, giữa thai nhi với thế giới bên ngoài, có những phản ứng “Tiếp nhận” hoặc “Chối bỏ” của thai nhi trước các tác động cùa ngoại cảnh.

Theo tài liệu nghiên cứu học: Nhân cách con người được hình thành rất sớm, ngay từ trước khi ra đời. Ý nghĩ, cảm xúc và những nỗi buồn vui của người mẹ đã truyền vào đứa con. Nhiêu phụ nữ có thai biết giữ gìn tình cảm cân bằng do đó giữ được sức khỏe cho đứa con. Những nỗi đau của người mẹ phải chịu đựng trong thời gian thai nghén ảnh hưởng mạnh tới đứa trẻ sơ sinh. Lòng thiết tha đối với đứa trẻ chưa ra đời là một biện pháp giữ gìn sức khỏe cho đứa trẻ tốt nhất, và có ảnh hưởng quyết định tới quan hệ mẹ con sau này”…



Từ khóa tìm kiếm nhiều: phong tục tập quán việt nam

Tại sao khi mới đẻ chưa đặt tên chính

        Theo phong tục, một người từ sinh ra đến khi chết mang rất nhiêu tên gọi: Mới lọt lòng thì thằng Cu, thằng Cò, con Hĩm, thằng Mực, con Cún, thằng Chắt em, con Chắt à… thường là đặt tên xấu để dễ nuôi, đến khi lớn lên thì anh Hai, anh Ba, chị Bảy… lấy vợ chồng thì anh Nhiêu, anh Đồ, chị Xã… Có con gọi theo tên con, có cháu đích tôn gọi theo tôn cháu, đến khi chết thì đặt tên hèm gọi là hiệu đế cúng, người có học thì tụ đặt tên hèm gọi là hiệu để cúng, người có học thì tự đặt tên tự, người có chức tước có thềm tên thụy, người có chức tước học vị cao sang thường dược tôn xưng theo họ, hay tên địa phương: Cụ án Mai. Cụ Tam Nguyên Yên Đồ, ông Trạng Trình, ông Tú Vĩ Xuyên, Quan Thám Nam Sơn… Đó là theo phong tục xưng hô của Trung Quốc. Trong nhiều tên gọi nhưng chỉ có tên húy là chính: Tên húy là tên đặt khi vào sổ họ, khi vào làng ghi trong sổ họ, khi đi học, khi vào số họ, khi vào làng ghi trong sổ họ, khi đi học.

Ngày nay đẻ ra là khai sinh, có thủ tục quản lý hộ tịch chặt chẽ, ngày trước mỗi làng xã cúng có hương bộ lo sổ sách sinh tử, giá thú nhưng không quản lý chặt chẽ. Nhà nước chỉ quan tâm đến sổ định (từ 18 tuổi), số điền để thu thuế và bắt lính, bất phu, vì vậy vào sổ làng muộn càng hay lớn lên đỡ được vài năm thuế thân, phu phen tạp dịch.

Tại sao khi mới đẻ chưa đặt tên chính

Trong xã hội cứ, tình trạng hữu sinh vồ dụng khá phố biến, ít có giá trị sinh năm đẻ bảy được vuông tròn, vì vậy qua các tuần cứ mới tạm yên tâm, khi đó mới đặt tên húy.

Các họ mỗi năm tế một lần. Trong dịp tế đó, các gia đình có con cháu mới sinh sắm sửa cơi trầu, chai rươu, hương hoa, lễ vật đến nhà thờ họ yết cáo tiên tổ và vào sé họ. Ngày đó mới có tên húy chính thức, được họ hàng công nhận.

Trong khi vào sổ họ phải đối chiếu gia phả để xem có trùng tên các vị tiên tổ hoặc ông già chú bác trong nội thân hay không, nếu có tức là phạm húy thì phải đổi tên. Không những phải tránh phạm húy tổ tiên bên nội mà còn phải tránh phạm húy can cụ ông bà ngoại mặc đầu khác họ, tránh phạm các húy hiệu của thành hoàng, thánh mẫu, linh thần từng địa phương. Ở nông thôn, các vị có ụy vọng trong lòng, trong họ trưởng được dân chúng biếu trầu rượu và nhờ đặt tên cho con. Người đặt tên được gia đình đó nhớ ơn suốt đời.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: le xin dau

Con so về nhà mạ, con rạ về nhà chồng, tại sao?

    Con so là con sinh đâu lòng. Con rạ là những đứa consinh sau. Nếu nuôi được cả thi con so là trưởng, con rạ làthứ. Phong tục này phổ biến ở Trị Thiên và một số địa phương ngoài Bắc, còn ở Nghệ An, Hà Tĩnh thì trừ trường  hợp ở rể, nói chung con gái không được sinh đẻ ở nhà cha mẹ mình.

    Con gái mới lớn lên, mới sinh lần đầu tiên, trẻ người non dạ, chưa biết đi đứng, ăn uống, tắm giặt, kiêng khem ra sao,hơn nữa trong người yếu khỏe ra sao muốn nhờ vả mẹ chồng hoặc chị em nhà chồng cũng ngân ngại, khó nói hơn với mẹ đẻ và em út mình. Còn những Tân sinh sau đã cổ kinh nghiệm, có thể tự mình giải quyết được nhiêu việc. Phong tục: “Con so về nhà mạ” là. một phong tục hay nhưng muốn giải quyết được êm đẹp cũng phải có xếp.

Con so về nhà mạ

   Gần ngày ở cữ, chồng hoặc chàng rể sang quê ngoại thưa chuyện trước,nếu có khó khăn về kinh tế hoặc đường sá xa xôi cách trở cũng cần thảo luận với nhau vê trách nhiệm cho thỏa đáng sau khi mẹ tròn con vuông, cho cứng cáp, chàng rể cũng cần sắm một số lễ vật, nhằm ngày tốt sang tạ ơn gia tiên bên ngoại và ông bà ngoại để xin đón vợ con vê. Ông bà ngoại còn cẩn thận đánh dấu vôi hoặc nhọ nồi ở trán cho cháu và các thứ bùa phép khác để các thứ tà ma ác quỷ không dám bén máng đến quấy rối cháu dọc đường.

   Ở Nghệ Tĩnh lại có phong tục ngược lại: Cho là sinh dứ tử lành, ngoài con dâu ra, không ai được quyên sinh trong nhà. Con gái về nhà mạ, nếu nhỡ đến kỳ động thai, trở dạ, không kịp trở vê nhà chồng, sợ sinh nở dọc đường thì bố mẹ phải dựng tạm chiếc lều ở góc vườn, hoặc nếu không kịp, thì ra chuồng trâu mà đẻ.

  Thiết nghĩ không cần phân tích, bạn đọc cũng thấy được phong tục nào hợp tình hợp lý hơn.Trường hợp đã mồ côi mạ, vè nhà mạ thiếu người chăm nom thì con cũng về nhà chồng.


Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Ai mới là người nói có lý

       Cậu con thứ của tôi, bỗng quay lại phía chú, đột ngột hỏi:
-Vua ban rằng “Hiếu hạnh” gì gì đó có đúng đối tượng không chứ? Hãy lại nghe dưới tâu báo lên, chỉ phong cho bọn lắm tiền, khéo nịnh, để được ăn khao cho to? Chứ ạ, ngày xưa các cụ ngốc lắm: “Đức Đại thánh họ Ngu vua Thuấn” thì đúng là không khôn: “Hiếu với cha mẹ đã đành một nhẽ, chứ với mụ dì ghẻ cay nghiệt như kiểu mẹ con con Cám, gặp phải cháu thì ăn đấm chứ đừng hòng “Trăm cay đắng một niềm ngọt ngào”. Đời nhà ai, có người chôn con nuôi mẹ như Bán Quách Cự mà cũng được “thơm nghìn muôn thu”. Đáng lý ra triều đình phải nghiêm trị. tội giết người, hơn nữa lại là tội giết hại trẻ em. Cuối cùng chú em quay sang hỏi tôi:
– Theo ý anh, thế nào là “Có hiếu”, thế nào là “Bất hiếu”. Giữa hai đứa con, anh chọn đứa nào, một như cháu đây: Con nhà nghèo, mới 4,5 tuổi đã biết giành phần ngon về cho mẹ, một là đứa giàu sang, không đúng ngày giỗ cha cũng lấy cớ bịa ra ngày giỗ, cỗ bàn linh dinh để khoản đãi, cầu cạnh với kẻ cao sang, làm ra vẻ người con chí hiếu, trong khi đó thì hắt hủi người mẹ quê mùa, lam lũ nghèo hèn như trong chuyện “Báo chiếu cha” của Nguyễn Công Hoan. Thế nào, giữa “Lục Tích nhà ta” mặc dù có lúc còn hỗn láo bướng bỉnh và nhân vật “Chủ hãng ô tô con cọp” của Nguyễn Công Hoan, anh chọn đứa nào ?

Ai mới là người nói có lý

          Dường như để tránh dung dưỡng cho với điều không phải, chứ em tôi quay lại, nhỏ nhẻ bảo cháu:
– Cháu ạ, cháu có thể tranh luận với cha mẹ nhưng phải lễ độ, từ tốn, phải biết lựa lời, chọn lúc, tuyệt đối không được có thái độ nóng rảy, cáu gắt, hỗn láo, nhất là khi có khách, khi ra đường, giữa công chúng, hoặc trước mặt vợ con đừng để ông bà trên bàn thờ quở mắng bố mẹ cháu rằng không biết dạy con, đừng để vợ con cháu, em út cháu khinh nhờn bố mẹ cháu, tất nhiên cũng khinh nhờn cả cháu. Sau này cháu sẽ rõ: Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.
Từ nãy đến giờ nhà tôi chỉ ngồi nghe, bây giờ mới lên tiếng: “Nghe cha con, chú cháu nhà ông nói thì ai cũng có lý”!
Xin mượn câu nói đó làm câu kết cho bài này.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: lễ lại mặt

Quan điểm đạo hiếu khác nhau mỗi thời

          Các bạn biết chữ Hán thấy rõ: Chữ “Hiếu” là chữ viết tắt của hai chữ “Khảo” ở trên (lượt bớt phần dưới) và chử “Tử” ở dưới. “Hiếu” tức là mỗi quan hệ cha trên, con dưới ; Suy rộng ra là đạo nghĩa của con cháu đối với cha mẹ, ông bà tổ tiên.
          Đọc bài “Đạo hiếu” của Nhất Thanh (Tr.331 cuốn “Đất lề quê thói”. NXB Đồng Tháp) cùn g với một số bài nói về lễ Mừng lão, Yến lão, tôi rất nhất trí và không lặp lại, chỉ xin nổi thêm vài lời.
         Đạo hiếu xuyên suốt trong mọi phong tục của nhân dân ta, không thể không nói đến chữ hiếu khi viết về phong tục cổ truyền của ta. Lễ tế, lễ tang, lễ cưới, kể cả sinh đẻ, xây nhà dựng cửa, hội hè đình đãm, việc nước, việc làng, thuần phong mỹ tục đã dành mà trong số với phong tục đã lỗi thời, ngày nay bị xếp vào loại đồi phong bại tục, ta cũng chắt lọc được một phấn tình hoa của đạo hiếu.

Quan điểm đạo hiếu

          “Hiếu” là thiên kinh đại nghĩa, là gốc của mọi đức tính ca dao tục ngữ đã nói nhiều, ngay trong bài học vỡ lòng trong “Luân lý giáo khoa thư” của các em đã hiểu: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”… Nhưng chân lý đó, ai cũng chấp nhận, song quan niệm về chữ “Hiếu”, ngày nay cúng có phần khác thời xưa.
          Tôi không dám lên mặt hay dạy đời, chi xin thuật lại một buổi tranh luận trong nội bộ gia đình tôi:
         Trước hết tôi hỏi: “Hiếu” là gì? Cháu nhanh nhảu trả lời: ”Hiếu’’ là hiếu với dân. Bác Hồ khuyên: “Trung với nước, hiếu với dằn”. Đài báo cũng nhắc luôn: “Hiếu với dân, tức là cán bộ phải chăm lo cho dân, đừng ăn hối lộ đừng hách dịch với dân
– “Việc hiếu” là gì?
– “Việc hiếu” là việc… là việc… là việc cán bộ chăm lo cho nhân dân mà không ăn của đút, không… Đến đây cháu lúng túng. Thằng con út trả lời thay:
– “Việc hiếu” là việc đưa đám ma, vì hôm trước, đưa đám ma xong, ông hàng xóm đứng lễn cám ơn thân bằng cố hữu đã giúp gia đinh lo xong việc hiếu…
          Đến đây, được chú em tôi phụ họa thêm:
– Cháu nói có lý đấy anh ạ! “Việc hiếu” là việc đối với người chết, cho nên người ta thường nói “Hiếu”, “Hỷ”, tức là chỉ việc tang, việc cưới. Nhưng cháu ạ, việc hiếu phải ba năm chứ không phải đưa ma xong là xong đâu! Đến như tiến sỹ Lý Trần Quán, một người tận trung tận hiếu cuối Lễ, trước khi chết còn viết đôi câu đối “Tam niên chi hiếu dĩ hoàn. Thập phần chí trung vị tận” (chữ hiếu 3 năm đã xong, chứ “trung” mười phần chưa trọn).
– Hiếu đối với người chết, còn đối với người sống thì sao? Sự tự như sự sinh” kia mà?
– Ồ, nhanh muốn biết con anh có hiếu hay không, xin anh háy ráng chờ sau khi anh chết sẽ rõ, Ca dao có câu “Khi sống thì chẳng cho ăn. Đến khi chết xuống làm văn tế ruồi”



Từ khóa tìm kiếm nhiều: phong tuc viet nam

Tục mở hàng

Trong phong tục ngày Tết, chúng tôi đã trình bày, đầu năm ai cũng muốn vận hội hanh thông, làm ăn suôn sẻ, làm quan có ngày khai ấn, kẻ sĩ có ngày khai bứt, nhà nông có ngày khai canh, làm thợ có ngày khai công, người làm nghề buôn bán có ngày mở hàng. Theo tâm lý chung mọi việc khỏi dầu đều khó khăn, mà “Đầu đi thi đuôi lọt”. Riêng trong nghề buôn bán lại càng bấp bênh, có ngày mua may bán đắt, có ngày ngồi suốt buổi chẳng ai ngó tới, có tháng lời lãi nhiều, lợi lộc lớn, có tháng thua lỗ mất cả chì lẫn chài, vì vậy không với chọn ngày mở hàng, đầu năm, mà cả đầu tháng, dầu tuần, từng ngày còn phải để ý đến chuyện mở hàng: mở hàng vào lúc nào? bán cho ai “Nhẹ vía” để cả ngày bán đắt hàng? Thông thường muốn được đông khách đến mua thì thái độ người bán hàng phải niêm yết, vồn vá, ân cần, bán với giá hơn bình thường để cầu được đông khách và giữ được chữ Tín đứng hàng dầu. Song có người lại tưởng nhầm bán mở hàng phải bán cho đắt, người mua mặc cả chê đắt không mua bỏ đi rốt cuộc ngồi lì suốt buối không ai hỏi đến, thậm chí còn có thái độ và ma thuật bì ổi cho là tại người mở hàng nặng vía, chửi rủa người ta và “Đốt vía” người mở hàng. Người bán hàng như vậy không biết rằng: Chính mình là người nặng vía nhất.

Tục mở hàng

Ngày trước người ta muốn đi chợ sớm để được đua mở hàng ; được có giá rẻ hơn chút ít, nhưng ngày nay nhiều người ngại mở hàng vì sợ vướng phải hạng người không biết mình bán hàng nặng vía lại đòi “Đốt vía” người mua mở hàng.
Đến đây ta có thể kết luận được: Bán mở hàng nên bán đắt hơn hay rẻ hơn giá bình thường?
Chuyện vui:
nMở hàng nhẹ vía” hay “Nợ như Chúa Chổm”
“Nợ như Chúa Chổm”. Đó là thành ngữ phổ biến để chỉ người lắm nợ. Nhưng tại sao Chứa Chổm lại lắm nợ như vảy ? Truyền thuyết kể rằng: ‘Chổm” là hạng cùng dân ở miền Thanh Hóa, chẳng có gia tài điền sản hay nghề ngỗng gì, quanh năm chỉ có đánh dặm, mò cua, bắt ốc nuôi thân “Chổm” tên thật là gì, quê quán ở đâu, bà con họ hàng thân thích có với ai ? Chẳng aii để ý đến. Một con người “Tứ cố vò thân” như vậy, hỏi rằng ai dám cho vay mà “Nợ như Chúa Chổm” được. Nguyên do: Có mấy lần sáng sớm, Chổm vào quán nhở án lót dạ, tự nhiên với hôm đó chủ quán bán rất đát hàng. Vì vậy, một đồn mười, mười đồn tràm, các chủ quán ai gặp Chổm cứng cố nài Chổm vào ăn quà lấy may. Ai được Chổm hôm nào chiếu, cố vào ăn thì hôm ấy đều bán được đắt hàng. Nhưng Chổm làm gi có nhiều tìên để trả, người ta vui lòng mời Chổm ăn, bao giờ có tiền trả cũng được, mà không có cũng thôi, do đó trong khắp vùng không ai mắc nợ nhiều bằng Chổm.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: phong tục việt nam

Màu sắc với truyền thống văn hóa dân tộc

Ở mỗi dân tộc việc vận dụng màu sắc có tập quán khác nhau. Thí dụ ở các nước phương Tây, màu đen là màu tang tóc, còn ở Việt Nam các nước phương đông thì phổ biến màu tang lại là màu trắng.
Màu sắc còn mang đặc trưng sắc thái của các tầng lớp – hội khác nhau: Thí dụ màu vàng là của Vua, từ các quan đại thần cho đến thường dân, cấm không ai được mặc quần áo hoặc xây dựng nhà cửa màu vàng. Mầu tím là sắc phục của các quan đại thần. Mầu điêu, mầu đở dành riêng để tế thần và làm sắc phục cho các cụ thượng thọ. Màu nâu sòng là của cửa Thiên dành cho với kẻ quy y Phật tổ, cũng như màu đen là sắc phục của linh mục đạo Ky-Tô. Màu xanh là của với người còn theo dõi Cửa khổng sân Trình, của học trò chưa đậu đạt: Trong bài thơ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp gửi Tìên sĩ Nguyễn Khản có câu:
Quân kim bảo hốt trung triều sĩ,
Cố ngã lâm tuyền khâm thương thanh…

Màu sắc với truyền thống văn hóa dân tộc

(Có nghĩa là: Nay ngài đã là khanh tướng trong trường, mà còn nhớ đến bạn học ngày xưa áo vẫn xanh). “Áo vẫn xanh” tức là chưa hiển đạt, vẫn còn là bộ quần áo của người hàn sĩ. Mầu đào tức mầu hoa đào là của các nàng ca sĩ, cho nên mới có danh từ “Hát ả đào”.
Màu đen, màu nâu là trang phục rẻ tiền nhất cửa quần chúng nông dân. Máu xanh nhập nội từ đất nước Trung Hoa sau giải phóng gọi là xanh công nhân.
Ở Việt Nam, từ xưa đến nay, mầu đỏ, màu vàng, mầu Hồng, dùng trong trường đời chỉ dành để chúc tụng, khao lão, mừng rỡ, màu đen, màu tím V.V.. Không hiểu vì sao, gần đây nhan nhân ô các cửa hàng, trướng điếu (lễ tang) cũng dùng màu đở, màu vàng rực rỡ, phải chăng các cụ già chết là đáng mừng, không cần phải an ủi, lưu luyến nên chăng cần dùng màu đen, trắng, xanh, tím như ngày xưa. Vì thế mới xảy rà câu chuyện oái oăm: Có người đi mừng ông bạn 70 tuổi lại mua một bức trướng điếu màu đỏ thêu 4 chữ vàng “Tiên cảnh nhân du”, có khác gì chúc cho bạn mình mau chết để chóng được lễn dạo chơi trên cảnh Bồng lai. Nguyên “Tiên cảnh nhân du” (Nghĩa là thanh nhàn dạo chơi trên cảnh tiên) là để an ủi người mới mất từ nay hết nợ trần gian lễn hưởng cảnh tiên.


Tục khao lão

Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ
Có rượu thì ông chống gậy ra,
(Nguyễn Khuyến)
Lên lão cũng phải khao. “Khao lão”không khó khăn như ! khao vị thứ đình trung. Lo đủ lệ là được, có mời thì phe giáp hay thổn xóm khắc đến, vì lễn lão là quyền đương nhiên không phải cầu cạnh.

Tục khao lão

Với nhà giàu có thường nhân dịp bày tìệc mừng thọ tế lễ, ăn uống linh đình. Tế sống cha mẹ, có văn chúc thọ với ban tư văn hành lễ trở tế. Cha mẹ ngồi phía trong, con trai, gái, dâu, rể, cháu, chắt, phân thứ bậc trên dưới đứng hai bên, nam bên trái, nữ bên phải, làm lễ tế ba tuần rượu, có tấu nhạc trọng thể, vui vẻ. Tế sống cha mẹ mỗi lần hai lạy, khác tế thần, tế tổ mỗi lần bốn lạy. Ở đất văn vật, bài văn tế chúc thọ thường là cả một công trình bút mực, có khi người trong vùng nô nức đến xem tế và nghe đọc văn.
Có đám mừng thị mời bà con họ hàng làng tổng, tìệc tùng hát xướng hai ba bốn ngày.
“Phú quý sinh lễ nghĩa”, có nhiều nhà làm lễ mừng thọ cha mẹ lên lão 70, 80, 90 tuổi… Không phải tục lệ bắt buộc, giàu có bày ra thết đãi mời mọi người đến chia vui với mình, đồng thời làm vui lòng cha mẹ, tưởng cũng là một tục hay, có thể khiến cho với kẻ nhẹ tình hiếu thảo, không lo phụng dưỡng cha mẹ cho được tuổi thọ như người, phải lấy làm suy nghĩ và hổ thẹn.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: lễ xin dâu

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

Quan điểm đạo hiếu thời xưa khác thời nay như thế nào?

        Thời xưa còn thế nữa là bây giờ. Nhưng anh cũng đừng lo ruồi ăn hết phần, vì thanh thiếu niên ngày nay có biết đọc văn nữa đâu mà tế ruồi.
        Đến đây lại chuyển sang mục tranh cãi giữa tôi và chú em về quan niệm chữ “Hiếu” thời xưa và thời nay.
– Thời nay lớp trẻ chẳng biết “Chín chữ cù lao” là cái gì. Công ơn mang nặng đẻ đau, nuôi con khôn lớn tốn bao nhiều tâm lực, đến nay chúng nó có lớn mà chẳng có khôn.
– Tôi phàn nàn – Đã thế còn hỗn láo, bướng bỉnh…
– Đó là chẳng qua là cái món nợ đồng lần, mình nuôi con rồi con nuôi cháu cũng thế. Lớp trẻ bây giờ nhiều người nối ngược: “Sinh ra ta, nuôi ta lớn lên, đó là trách nhiệm của các ông bô, bà bô. Có đứa con trách bố mẹ: “Sao con người ta ăn sung mặc sướng, được chiêu chuộng. Bố mẹ mìn à thì “Khe khắt”, “Ky bo” mà còn kể ơn huệ!” – Chú em tôi tiếp thêm.


Quan điểm đạo hiếu

       Đối với ông bố bà mẹ có với đứa con như vậy, quả thật là bất hạnh, song cũng phải khẳng định số người đó rất ít, vả lại khi đến tuổi trưởng thành, được tiếp thu sự giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội và qua khảo nghiệm thực tế của cuộc đời, chúng sẽ thay đổi tính tình. Bố, mẹ bao giờ cũng sẵn sàng tha thứ, nước mắt chảy xuôi là lẽ thường tình.
Bàn đến câu ca dao: “Cá không ân muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư”, rồi “trứng khôn hơn vịt”… được dịp, con cả tôi xen vào:
– Con xin phép cha mẹ và chú, con cãi cha mẹ khổng phải trăm phần trăm con hư cả. Nếu cha mẹ nghĩ sai làm sai, con can ngăn thì đó có phải là bất hiếu đâu!
        Ông chú gật gù tán thành:
.-Cháu nói có lý. Câu “con cãi cha mẹ trăm phần còn hư” chỉ đúng khi đứa con còn thơ ấu, chứ khi đã trưởng thành có nhiều cô cậu còn khôn hơn cả mẹ. “Con hơn cha là nhà có phúc” mà! Thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật tiến vùn vụt, tư duy chính trị, kinh tế bây giờ cũng đổi mới mà cánh già chứng ta thường hay thủ cựu, bảo thủ cố chấp. Âu cúng là mâu thuẫn giữa hai thế hệ…
– Theo chú, câu tục ngữ : Có con tội sống, không có con tội chết có đúng không?
– Đúng thời xưa nhưng không đúng thời nay. Thời xưa có câu “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” (có ba điều bất biết với cha mẹ, trong đó không có con là điều nặng nề nhất). Cha mẹ ông bà tuy đã qua đời nhưng còn sống trong ta, nếu ta không có con thì sau khi ta chết, ta cũng làm tiêu tan nốt dòng máu của bao đời tổ tiên, ông cha lưu lại. Nhưng còn tội sống thì sao? Có ít người cho rằng nuôi con chẳng qua chỉ mang thêm tội vạ. Đã vậy sao nhiều người ghét con lại thương cháu. Có lẽ bởi họ nghĩ rằng con họ đã không nối được nghiệp cha ông thì hy vọng cháu mình sẽ nối.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: phong tục cưới hỏi