Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015
“Nợ như Chúa Chổm”. Đó là thành ngữ phổ biến để chỉ người lắm nợ. Nhưng tại sao Chúa Chổm lại lắm nợ như vây ? Truyền thuyết kể rằng: “Chổm” là hạng cùng dân ở miền Thanh Hóa, chẳng có gia tài điền sản hay nghề ngỗng gì, quanh năm chỉ có đánh dặm, mò cua, bắt ốc nuôi thân “Chổm” tên thật là gì, quê quán ở đâu, bà con họ hàng thân thích có những ai? Chẳng ai để ý đến. Một con người “Tứ cố vô thân” như vậy, hỏi rằng ai dám cho vay mà “Nợ như Chúa Chổm” được. Nguyên do: Có mấy lần sáng sớm, Chổm vào quán nhỏ ăn lót dạ, tự nhiên những hôm đó chủ quán bán rất đắt hàng. Vì vậy, một đồn mười, mười đồn tràm, các chủ quán ai gặp Chổm cũng cố nài Chổm vào ăn quà lấy may. Ai được Chổm hôm nào chiếu cố vào án thì hôm ấy đều bán được đắt hàng. Nhưng Chổm làm gì có nhiều tiền để trả, người ta vui lòng mời Chổm ăn, bao giờ có tiền trả cũng được, mà không có cũng thôi, do đó trong khắp vùng không ai mắc nợ nhiều bằng Chổm.
Năm 1527 Mặc Đăng Dung cướp ngôi nhà vua Lê Cung Hoàng, dựng nên nhà Mạc. Đến năm 1532 Nguyễn Kim khởi nghĩa phò Lê chống Mạc, đi tìm hậu duệ tôn của vua Lê, tìm được Chổm, mặc dầu khố rách áo ôm, nhưng có khí tướng đế vương (người ta còn đồn đại rằng: Chổm đi đâu cúng có đám mây che trên đầu, trời đang nắng gắt cũng trở nên râm mát v.v…), Chổm được phò lên ngôi vua mở đầu thời Lê Trung hưng đóng đô ở Thanh Hóa (tức Tây Đồ) để chống với nhà Mạc ở Hà Nội (tức Đồng đô).
Sau khi lên làm vua, không có điều kiện gầngũi quần chúng như trước, mà cũng không nhớ nợ ai bao nhiều mà trang trải nợ nần nữa. Chúa Chổm (thực ra là Vua Chổm) đành phải hạ lệnh đức thật nhiêu tiền, rồi chổm đi đến đâu rải tiền ra đến đấy, cho công chúng ai nhanh tay, mạnh bước thì nhặt lấy. Vì thế nên mới có thành ngữ: “Nợ như Chúa Chổm”.
Từ khóa tìm kiếm nhiều:
phong tục tập quán việt
nam
Ở mỗi dân tộc việc vận dụng màu sắc có tập quán khác nhau. Thí dụ ở các nước phương Tây, màu đen là màu tang tóc, còn ở Việt Nam các nước phương Đông thì phổ biến màu tang lại là màu trắng.
Màu sắc còn mang đặc trưng sắc thái của các tầng lớp xã hội khác nhau: Thí dụ màu vàng là của Vua, từ các quan đại thần cho đến thường dân, cấm không ai được mặc quần áo hoặc xây dựng nhà cửa màu vàng. Màu tím là sắc phục của các quan đại thần. Mầu điều, mầu đỏ dành riêng để tế thần và làm sắc phục cho các cụ thượng thọ. Màu nâu sòng là của cửa Thiên dành cho những kẻ quy y Phật tổ, cũng như màu đen là sắc phục của linh mục đạo Ky-Tô. Màu xanh là của những người còn theo dõi Cửa khổng sân Trình, của học trò chưa đậu đạt:
Trong bài thơ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp gửi Tiến sĩ Nguyễn Khản có câu:
Quân kim bảo hốt trung triều sĩ,
Cố ngã làm tuyên khăm thương thanh…
(Có nghĩa là: Nay ngài đã là khanh tướng trong trường, mà còn nhớ đến bạn học ngày xưa áo vẫn xanh). “Áo vẫn xanh” tức là chưa hiển đạt, vẫn còn là bộ quần áo của người hàn sĩ. Mầu đào tức mầu hoa đào là của các nàng ca sĩ, cho nên mới có danh từ “Hát ả đào”.
Màu đen, màu nâu là trang phục rẻ tiền nhất của quần chúng nông dân. Màu xanh nhập nội từ đất nước Trung Hoa sau giải phóng gọi là xanh công nhân.
Ở Việt Nam, từ xưa đến nay, mầu đỏ, màu vàng, mầu hồng, dùng trong trường đời chỉ dành để chúc tụng, khao lão, mừng rỡ, màu đen, màu tím… Không hiểu vì sao, gần đây nhan nhản ở các cửa hàng, trướng điếu (lễ tang) cũng dùng màu đỏ, màu vàng rực rỡ, phải chăng các cụ già chết là đáng mừng, không cần phải an ủi, lưu luyến nên chẳng cần đùng màu đen, trắng, xanh, tím như ngày xưa. Vì thế mới xảy ra câu chuyện oái oăm: Có người đi mừng ông bạn 70 tuổi lại mua một bức trướng điếu màu đỏ thêu 4 chữ vàng “Tiên cảnh nhân du, có khác gìchúc cho bạn mình mau chết để chóng được lên dạo chơi trên cảnh Bồng lai. Nguyên “Tiên cảnh nhân du” (Nghĩa là thanh nhàn dạo chơi trên cảnh tiên) là để an ủi người mới mất từ nay hết nợ trần gian lên hưởng cảnh tiên.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: le xin dau
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

